Hàng hóa TG sáng 22/3/2019: Nhiều mặt hàng giảm nhẹ từ mức cao của phiên trước

.
Trên thị trường năng lượng, giá dầu vẫn quanh mức cao nhất trong năm 2019 mặc dù đã giảm nhẹ so với phiên trước.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc giảm 0,64 USD (0,9%) xuống 67,86 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm xuống 59,98 USD/thùng, sau khi có thời điểm vọt lên 60,33 USD/thùng, mức cao nhất kể từ ngày 12/11.
Các nhà giao dịch nhận định giá dầu đã tăng gần 30% kể từ đầu năm 2019, nhờ kế hoạch cắt giảm sản lượng của các nhà sản xuất trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), cũng như các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran và Venezuela.
Thống kê cho thấy sản lượng dầu thô của OPEC đã giảm từ mức đỉnh 32,8 triệu thùng/ngày hồi giữa năm 2018 xuống 30,7 triệu thùng/ngày trong tháng Hai vừa qua.
Thêm vào đó, các lệnh trừng phạt của Mỹ cũng làm gián đoạn nguồn cung ứng “vàng đen” trên thị trường.
Lượng dầu thô xuất khẩu của Iran đã giảm sút sau khi Mỹ đặt mục tiêu giảm 20% lượng dầu xuất khẩu của nước này xuống dưới 1 triệu thùng/ngày từ tháng Năm tới, thông qua việc yêu cầu các nước nhập khẩu giảm lượng mua vào để tránh nguy cơ bị trừng phạt.
Nhà phân tích Phil Flynn, thuộc Price Futures Group tại Chicago, nhận định thị trường đang có một chút do dự khi giá dầu ở mức hiện nay.
Nhà phân tích này cho rằng nếu thiếu các sự kiện mới, giá dầu có thể sẽ đi xuống. Số liệu thống kê về số giàn khoan dầu trong tuần này tại Mỹ sẽ được theo dõi sát sao.
Công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho biết tuần trước, các công ty năng lượng Mỹ đã giảm số giàn khoan dầu tuần thứ tư liên tiếp.
Tuy nhiên, căng thẳng thương mại trên toàn cầu vẫn điều khiến thị trường lo ngại.
Giá gas tại Mỹ tăng nhẹ, thêm 0,07% lên 2,819 USD/mmBTU, do lượng tồn kho giảm.
Theo báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), tính đến thứ Sáu (15/3), tổng lượng tồn kho khí gas Mỹ đạt 1.143 tỷ feet khối, giảm 47 tỷ feet khối so với tuần trước.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm bởi số liệu về kinh tế Mỹ tốt hơn dự đoán đã đẩy đồng USD mạnh lên. Vàng giao ngay cuối phiên giảm 0,4% xuống còn 1.307,23 USD/ounce, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất trong ba tuần qua là 1.320,22 USD/ounce; trong khi giá vàng giao sau tăng 0,4% và khép phiên ở mức 1.307,3 USD/ounce.
Số người Mỹ nộp đơn xin hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tuần trước giảm nhiều hơn dự đoán, trong khi một số liệu khác cho thấy hoạt động công nghiệp của nước này đã phục hồi đáng kể trong tháng này sau thời kỳ sụt giảm trước đó.
Chỉ số đồng USD, thước đo "sức khỏe của đồng bạc xanh" so với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác, đã tăng 0,8% lên 96,53 điểm, khiến vàng (vốn là kim loại quý được định giá bằng đồng tiền này) trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác. Trong khi đó, các thị trường chứng khoán trên toàn cầu cũng tăng điểm sau một phiên giao dịch biến động, với Phố Wall dẫn đầu là đà tăng.
Cũng trong phiên giao dịch này, trên thị trường các kim loại quý khác, giá palađi có thời điểm đã chạm 1.620,52 USD/ounce, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong lúc giá bạch kim giảm 0,5% lên 854,50 USD/ounce, còn giá bạc giảm 0,2% và được giao dịch ở mức 15,41 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm khỏi mức cao nhất 8 tháng, do đồng USD tăng trở lại sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ giữ lãi suất không thay đổi. Giá đồng kỳ hạn trên sàn London giảm 0,5% xuống 6.420,5 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 6.555,5 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 7/2018. Dự trữ đồng tại London giảm 2.825 tấn xuống 176.450 tấn, song vẫn tăng khoảng 60% so với mức thấp nhất năm 2008 trong tuần trước đó.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc giảm trở lại và không giữ được đà tăng vào đầu phiên giao dịch, do Brazil nối lại hoạt động khai thác quặng tại mỏ Vale.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên giảm 0,2% xuống 612 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 13/3/2019, trong đầu phiên giao dịch giá quặng sắt tăng 1,4% lên 622 CNY (93,18 USD)/tấn. Song tính từ đầu năm đến nay, giá quặng sắt đã tăng 24,4%, do lo ngại nguồn cung thiếu hụt sau vụ vỡ đập ngày 25/1/2019. Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 0,3% xuống 3.772 CNY/tấn, trong phiên có lúc tăng 1,2% lên 3.826 CNY/tấn, cao nhất 1 tuần. Giá thép cuộn cán nóng giảm 0,3% xuống 3.692 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 0,05 US cent tương đương 0,05% lên 94,8 US cent/lb, cao hơn mức thấp trong phiên trước đó (94,35 US cent/lb). Tính từ đầu năm đến nay, giá cà phê giảm gần 11% do dư cung, đặc biệt từ nước sản xuất hàng đầu – Brazil. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn tăng 8 USD tương đương 0,5% lên 1.503 USD/tấn.
Trong khi đó, giá đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 giảm 0,24 US cent tương đương 1,9% xuống 12,5 US cent/lb, giảm phiên thứ 3 liên tiếp. Giá đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 2,8 USD tương đương 0,8% xuống 335,2 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 335 USD/tấn, thấp nhất hơn 1 tháng.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 11 USD tương đương 0,5% xuống 2.132 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.113 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 5/12/2018. Giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 6 GBP tương đương 0,4% lên 1.620 GBP/tấn, trong phiên có lúc chạm 1.609 GBP/tấn, thấp nhất kể từ ngày 4/2/2019.
Ngô, đậu tương và lúa mì đều tăng
Giá ngô tại Mỹ tăng hơn 1% lên mức cao nhất trong 2,5 tuần, do lo ngại tiến độ trồng trọt tại phía tây khu vựcTrung Tây Mỹ bị chậm lại, đã thúc đẩy hoạt động mua vào.
Giá ngô kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Chicago tăng 4-3/4 US cent lên 3,76-1/4 USD/bushel, mức tăng mạnh nhất kể từ ngày 12/2/2019.
Đồng thời, giá đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Chicago tăng 4-1/2 US cent lên 9,1-1/2 USD/bushel. Giá lúa mì giao cùng kỳ hạn trên sàn Chicago tăng 1-3/4 US cent lên 4,66-1/2 USD/bushel, sau khi tăng gần 2% trong phiên trước đó.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự đoán nhập khẩu đậu tương hàng năm của Trung Quốc năm nay sẽ giảm lần đầu tiên kể từ 2014.
Trung Quốc đã đặt trước chỉ 11 triệu tấn đậu tương Mỹ kể từ năm tài chính hiện tại, bắt đầu từ ngày 1/9/2018, giảm từ mức 28,2 triệu tấn so với cùng kì năm trước đó. Tổng khối lượng đậu tương nhập khẩu của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm nay ước giảm 6,5% so với năm ngoái.
Sự bùng phát nhanh chóng của dịch tả lợn châu Phi (ASF) được báo cáo tại 28 tỉnh và khu vực đã dẫn tới sự tiêu hủy hàng loạt và làm giảm nhu cầu thức ăn nuôi lợn của Trung Quốc.
Bắc Kinh cũng đã cố thúc đẩy sử dụng thức ăn chăn nuôi thay thế để giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ Mỹ. Tuy nhiên, nhiều nông dân Mỹ vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ quay trở lại mua đậu tương Mỹ bởi ngay cả khi thành công trong việc giảm nhu cầu bột đậu tương, nhu cầu từ Trung Quốc đối với loại hạt chứa dầu này đã tăng hơn 3 lần trong 15 năm qua,
Và Bắc Kinh đã hứa mua thêm 10 triệu tấn hàng hóa như một phần của các cuộc đàm phán thương mại, theo các quan chức Mỹ.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,98

0,00

0,00%

Dầu Brent

USD/thùng

67,82

-0,04

-0,06%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.450,00

-270,00

-0,59%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,79

-0,03

-1,17%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

193,13

+1,10

+0,57%

Dầu đốt

US cent/gallon

198,60

-0,11

-0,06%

Dầu khí

USD/tấn

610,50

+0,25

+0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.550,00

-150,00

-0,24%

Vàng New York

USD/ounce

1.309,60

+2,30

+0,18%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.652,00

-22,00

-0,47%

Bạc New York

USD/ounce

15,49

+0,05

+0,31%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,10

-0,30

-0,54%

Bạch kim

USD/ounce

861,23

-0,37

-0,04%

Palađi

USD/ounce

1.600,56

+1,73

+0,11%

Đồng New York

US cent/lb

291,05

+0,45

+0,15%

Đồng LME

USD/tấn

6.421,00

-36,00

-0,56%

Nhôm LME

USD/tấn

1.899,50

-37,50

-1,94%

Kẽm LME

USD/tấn

2.835,00

-28,00

-0,98%

Thiếc LME

USD/tấn

21.375,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

377,25

+1,00

+0,27%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

465,50

-1,00

-0,21%

Lúa mạch

US cent/bushel

282,00

+1,25

+0,45%

Gạo thô

USD/cwt

11,05

-0,04

-0,32%

Đậu tương

US cent/bushel

911,00

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,70

+0,40

+0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,08

-0,02

-0,07%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

464,10

-4,10

-0,88%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.132,00

-11,00

-0,51%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

94,80

+0,05

+0,05%

Đường thô

US cent/lb

12,50

-0,24

-1,88%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

127,50

-2,60

-2,00%

Bông

US cent/lb

77,01

-0,17

-0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

378,40

-2,70

-0,71%

Cao su TOCOM

JPY/kg

189,20

-2,80

-1,46%

Ethanol CME

USD/gallon

1,43

+0,02

+1,35%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF

 

Nguồn: vinanet.vn